Chào mừng 25 năm thành lập Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam
28/9/2001-28/9/2026

Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnamese Phytopathological Society, tên viết tắt: VPS) được thành lập vào ngày 28/9/2001 trực thuộc Hội các ngành Sinh học Việt Nam với tên gọi ban đầu là Hội Sinh học Phân tử Bệnh lý Thực vật Việt Nam (2001-2008). Hội là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của các tổ chức và công dân Việt Nam đã và đang hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giảng dạy, giáo dục và đào tạo, tư vấn, quản lý khoa học trong ngành Nông – Lâm nghiệp và các loại bệnh hại thực vật trong Nông – Lâm nghiệp trên phạm vi cả nước.

Ngày 26/6/2019, theo Quyết định số 515/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Hội trở thành đơn vị đầu tiên trong số 16 Hội trực thuộc Hội các ngành Sinh học Việt Nam được thành lập với tư cách pháp nhân độc lập. Ngày 03/8/2019, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất nhiệm kỳ 2019-2024 tổ chức tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đã thành công tốt đẹp và được Bộ Nội vụ công nhận. Đến ngày 07/5/2020, Hội đã được cấp con dấu riêng. Ngày 19/7/2024, Đại hội Đại biểu nhiệm kỳ 2024-2029 đã tiếp tục được tổ chức thành công tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Đại hội Đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ 2019-2024
tổ chức ngày 03/8/2019 tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam
Đại hội Đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ 2024-2029
tổ chức ngày 19/7/2024 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam hiện có 22 Chi Hội trực thuộc trên toàn quốc với trên 1.000 Hội viên, trong đó có 432 Hội viên chính thức và trên 600 Hội viên liên kết hoạt động tại các Chi Hội. Hội có 11 Giáo sư, 21 Phó Giáo sư và hơn 120 Tiến sĩ, trong đó nhiều Hội viên là lãnh đạo và nguyên lãnh đạo các cơ quan quản lý, viện, trường từ trung ương đến địa phương trong cả nước. GS.TS. Vũ Triệu Mân giữ vị trí Chủ tịch từ khi thành lập Hội năm 2001 đến nay. Hội hiện có bốn Ban Chuyên môn gồm Ban Khoa học, Ban Đối ngoại, Ban Tài chính và Ban Thông tin, mỗi Ban do một Phó Chủ tịch Hội phụ trách. Văn phòng Hội đặt tại Viện Bảo vệ Thực vật, Phố Viên, Phường Đông Ngạc, Thành phố Hà Nội.

Trải qua 25 năm hoạt động liên tục, Hội đã đều đặn tổ chức rất thành công các Hội thảo Quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam hằng năm tại nhiều địa điểm khác nhau trên khắp miền đất nước và đều đặn xuất bản mỗi năm một quyển Kỷ yếu có mã số ISBN. Kể từ năm 2024, các bài báo tham gia Hội thảo được xuất bản trên các tạp chí khoa học hàng đầu Việt Nam. Hội thảo lần thứ 25 vừa qua tại Đại học Cần Thơ đã xuất bản được 48 bài báo, trong có 15 bài báo tiếng Anh được xuất bản trên tạp chí quốc tế. Đến nay, Hội đã công bố được 716 bài báo với 6.273 trang in. Trong số này, rất nhiều công trình đã và đang được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất các loại cây trồng như lúa, cây rau màu, cây ăn quả và cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao.

Hội thảo Quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 25
tổ chức ngày 17/7/2026 tại Đại học Cần Thơ

Nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam, Ban Chấp hành Hội đã thực hiện nghi thức tôn vinh đối với tám Hội viên đã có nhiều cống hiến cho quá trình hình thành và phát triển của Hội gồm GS.TS. Vũ Triệu Mân (Chủ tịch Hội), GS.TS. Nguyễn Thơ (Phó Chủ tịch Hội), GS.TS. Bùi Cách Tuyến (Phó Chủ tịch Hội), PGS.TS. Phạm Văn Dư (Phó Chủ tịch Hội), cố GS.TS. Phạm Văn Biên (Nguyên Phó Chủ tịch Hội), cố PGS. Phạm Văn Kim (Nguyên Phó Chủ tịch Hội), GS.TS. Nguyễn Văn Tuất (Nguyên Phó Chủ tịch Hội) và PGS.TS. Nguyễn Văn Viết (Nguyên Tổng Thư ký Hội).

Tôn vinh Hội viên đã có nhiều cống hiến cho quá trình hình thành và phát triển của Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập Hội tại Hội thảo Quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 25
tổ chức ngày 17/7/2026 tại Đại học Cần Thơ
Trao Biểu trưng tôn vinh GS.TS. Vũ Triệu Mân (Chủ tịch Hội)
tại Hội thảo Quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 25
Trao Biểu trưng tôn vinh GS.TS. Nguyễn Thơ (Phó Chủ tịch Hội)
tại nhà riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trao Biểu trưng tôn vinh GS.TS. Bùi Cách Tuyến (Phó Chủ tịch Hội)
tại nhà riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trao Biểu trưng tôn vinh PGS.TS. Phạm Văn Dư (Phó Chủ tịch Hội)
tại nhà riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trao Biểu trưng tôn vinh cố GS.TS. Phạm Văn Biên (Nguyên Phó Chủ tịch Hội)
tại nhà riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh
Trao Biểu trưng tôn vinh cố PGS. Phạm Văn Kim (Nguyên Phó Chủ tịch Hội)
tại nhà riêng ở Thành phố Cần Thơ
Trao Biểu trưng tôn vinh GS.TS. Nguyễn Văn Tuất (Nguyên Phó Chủ tịch Hội)
tại nhà riêng ở Thành phố Hà Nội
Trao Biểu trưng tôn vinh PGS.TS. Nguyễn Văn Viết (Nguyên Tổng Thư ký Hội)
tại nhà riêng ở Thành phố Hà Nội

Hiện nay, Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam là thành viên của Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Châu Á và Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Thế giới. Năm 2027, Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam hân hạnh đăng cai tổ chức Hội nghị Bệnh hại Thực vật Châu Á tại Việt Nam.

Bài: Nguyễn Đắc Khoa

Bản tin Khoa học

TỔNG QUAN VỀ BỆNH ĐỐM VẰN TRÊN CÂY LÚA
NHỮNG CÔNG BỐ KHOA HỌC NĂM 2025-2026

Bùi Chí Bửu
23/8/2026

Bệnh đốm vằn do nấm hoại sinh Rhizoctonia oryzae gây ra, là một bệnh nấm có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong sản xuất lúa ở Châu Á.

Mehta và cs. (2026) công bố bài viết tổng quan trên tạp chí Plant Pathology rất đáng chú ý. Tại Ấn Độ, bệnh này đang nổi lên như một thách thức tại các vùng trồng lúa trọng điểm. Bài tổng quan nhấn mạnh vào các nội dung gồm sự phân bố bệnh, tương tác giữa vật chủ và mầm bệnh, thiệt hại về năng suất, đa dạng di truyền, cấu trúc quần thể, độc lực, dịch tễ học và tính kháng của vật chủ. Quản lý bệnh này có sự đóng góp của kỹ thuật canh tác, đặc biệt là bón phân, sử dụng thuốc trừ nấm, các tác nhân kiểm soát sinh học và việc sử dụng các giống lúa kháng bệnh. Giống kháng bệnh đốm vằn cũng là thách thức trong nhiều thập niên gần đây. Thông qua việc tích hợp các nghiên cứu tiên tiến, từ hệ gen học (genomics) của cây lúa, chọn tạo giống nhờ chỉ thị phân tử, kỹ thuật di truyền hệ gen học vi sinh vật (microbiome engineering), đến giám sát kỹ thuật số (digital surveillance), người ta có thể xây dựng một quy trình quản lý bệnh toàn diện và bền vững (Mehta và cs. 2026).

Hình 1: Triệu chứng bệnh đốm vằn trên lá và bẹ lá (IRRI).

Adke và cs. (2026) đã sử dụng các kỹ thuật thống kê không gian tiên tiến (advanced geostatistical techniques) để đánh giá sự phân bố không gian của bệnh khô vằn tại bang Kartanaka của Ấn Độ qua hai vụ lúa liên tiếp (vụ kharif năm 2021 và 2022). Tổng cộng có 110 điểm lấy mẫu đã được khảo sát, bao phủ 14 huyện trồng lúa trọng điểm. Mức độ nghiêm trọng của bệnh được ghi nhận và phân tích bằng các phương pháp thống kê không gian, bao gồm nội suy trọng số nghịch đảo khoảng cách (IDW), Kriging chỉ thị (IK), thống kê Moran’s I và hàm Ripley’s K. Kết quả cho thấy sự phân bố tập trung rõ rệt của bệnh khô vằn trong không gian, với các điểm nóng có mức độ nghiêm trọng cao (chỉ số PDI > 40%) được ghi nhận tại các huyện Davanagere, Shimoga, Mandya và Haveri. Ngược lại, các điểm lạnh có mức độ nghiêm trọng thấp (PDI < 15%) được ghi nhận tại Belgaum, Uttara Kannada và Dharwad. Phân tích Moran’s I xác nhận sự tự tương quan không gian dương mạnh mẽ tại các khu vực có tỷ lệ bệnh cao, trong khi hàm Ripley’s K cho thấy sự tập trung đáng kể của bệnh khô vằn, đặc biệt là ở khoảng cách ngắn, gợi ý về khả năng lây lan cục bộ. Đánh giá rủi ro xác suất cho thấy Mandya, Raichur và Koppal là các khu vực có nguy cơ cao cần được can thiệp khẩn cấp, trong khi khu vực phía bắc Karnataka ghi nhận mức độ nhiễm bệnh thấp hơn. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về dịch tễ học và sự phân bố không gian của bệnh đốm vằn, giống lúa nào kháng và nhiễm bệnh, tạo cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược quản lý dịch bệnh phù hợp với từng địa phương (Adke và cs. 2026).

Tian và cs. (2026) đã phát triển mô hình SEIR-RICEDIS (mô hình SEIR dành cho bệnh hại lúa) bằng cách kết hợp khung dịch tễ học SEIR với ba mô đun tác động chính gồm nhiệt độ, lượng mưa và giá trị đỉnh hàng năm của tỷ lệ bệnh. Mô hình được thiết lập tham số và đánh giá dựa trên dữ liệu khảo sát thực địa giai đoạn 2010-2015, dữ liệu quan trắc khí tượng và dữ liệu viễn thám vệ tinh tại khu vực Đồng bằng trung và hạ lưu sông Dương Tử, Trung Quốc. Các tham số của mô hình được tối ưu hóa bằng thuật toán di truyền. Ở cả hai quy mô kiểm chứng, mô hình đạt hệ số R² từ 0,63 đến 0,72 và sai số tính theo căn số (RMSE) từ 6,68 đến 10,36 trong việc dự báo tỷ lệ mắc bệnh. Các khuyến nghị phòng trừ dịch bệnh được đưa ra dựa trên chỉ số diện tích tương đối dưới đường cong diễn tiến bệnh (rAUDPC) theo từng giai đoạn đã đạt độ chính xác từ 80% đến 84%. Mô hình SEIR-RICEDIS đã mô phỏng hiệu quả động thái dịch bệnh đốm vằn xét về cả không gian và thời gian. Mô hình này cung cấp một khuôn khổ quản lý bệnh vững chắc, dựa trên cơ chế sinh học, dự báo dịch bệnh ở quy mô vùng, qua đó hỗ trợ quá trình ra quyết định trong việc kiểm soát dịch bệnh (Tian và cs. 2026).

Bệnh đốm vằn là mối đe dọa lớn đối với sản xuất lúa Basmati của Ấn Độ. Verma và cs. (2026) đã nghiên cứu hiệu quả của chế phẩm chứa hỗn hợp vi sinh vật bao gồm Trichoderma harzianum, Trichoderma asperellum và Pseudomonas fluorescens. Khả năng tương thích giữa các chủng vi sinh vật đã được xác nhận qua các thử nghiệm trước đó. Việc xử lý hạt giống bằng hỗn hợp vi sinh vật đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm bệnh (54,08%), mức độ nghiêm trọng của bệnh (69,99%), chiều dài vết bệnh (53,36%) và số lượng chồi bị nhiễm bệnh (47,30%) so với đối chứng. Các mức giảm này tương đương với nghiệm thức thuốc trừ nấm hóa học Carbendazim. Ngoài ra, việc xử lý bằng vi sinh vật còn tăng cường hoạt tính của các enzyme quan trọng liên quan đến cơ chế phòng vệ của cây. Sự gia tăng đáng kể được ghi nhận trong hoạt tính của các enzyme phenylalanine ammonia-lyase, peroxidase, polyphenol oxidase và hàm lượng phenolic tổng số.

Hình 2: Vi sinh vật đối kháng với nấm gây bệnh đốm vằn (Verma và cs. 2026).

Kết quả phân tích tương quan cho thấy tỷ lệ bệnh đốm vằn có tương quan thuận chặt chẽ với chiều dài vết bệnh (r = +0,97), mức độ trầm trọng của bệnh (r = +0,98) và số chồi bị nhiễm bệnh (r = +0,95); ngược lại, tương quan nghịch với năng suất (r = -0,99), khối lượng tươi của cây lúa (r = -0,97). Hoạt tính của các enzyme phòng vệ tương quan nghịch ở mức trung bình với tỷ lệ bệnh (PAL: r = -0,57; TPC: r = -0,58; PO: r = -0,56; PPO: r = -0,57). Hoạt tính enzyme càng cao, mức độ nhiễm bệnh càng giảm trên giống lúa Basmati (Verma và cs. 2026).

Biswal và cs. (2026) nhận định sử dụng giống lúa kháng bệnh là chiến lược rất hiệu quả để quản lý bệnh đốm vằn. Họ đã tiến hành đánh giá 43 nguồn vật liệu gen lúa trong giai đoạn 2022-2024 tại Ranadevi, Odisha, Ấn Độ. Quá trình đánh giá được thực hiện trong điều kiện đồng ruộng tự nhiên kết hợp với lây nhiễm mầm bệnh nhân tạo. Việc phân loại các kiểu gen được thực hiện dựa trên chỉ số bệnh (PDI), diện tích dưới đường cong diễn tiến bệnh (AUDPC) và nhóm kiểu gen (GC). Các mô hình dự báo bệnh được thiết lập dựa trên mô hình Gompertz, mô hình RF (Random Forest) và mô hình ANN (Artificial Neural Network). Giống lúa Swarna Subhagya, CR 1017 và NLR 33892 biểu hiện khả năng kháng bệnh ổn định hoặc kháng trung bình qua các vụ lúa với giá trị AUDPC thấp (<400). Các giống lúa phổ biến (15 giống) trong đó có IR 64, MTU 1010 và CR Dhan 308 biểu hiện tính mẫn cảm cao với bệnh với có giá trị AUDPC trên 1500 và điểm GC là 5. Diễn biến bệnh thích nghi tốt tùy theo nhóm giống lúa kháng bệnh khác nhau (R² = 0,9747 – 0,9963) trong mô hình Gompertz. Độ chính xác kiểm tra là 76,92% theo kết quả mô hình RF, 81% theo mô hình ANN (Biswal và cs. 2026).

Arpitha và cs. (2026) tiến hành nghiên cứu giống lúa kháng bệnh đốm vằn trong vụ mùa kharif (tháng 7-11) năm 2023 và 2024 tại Karnataka, Ấn Độ. Tổng cộng 240 giống lúa bản địa đã được thanh lọc khả năng kháng bệnh khô vằn trong điều kiện đồng ruộng kết hợp với lây nhiễm bệnh nhân tạo. Nguồn nấm R. solani được nhân sinh khối trên hạt cao lương. Mẫu bệnh được sử dụng để lây nhiễm vào giai đoạn đẻ nhánh (30 ngày sau khi cấy). Đánh giá mức độ bệnh được thực hiện theo hệ thống đánh giá tiêu chuẩn (SES) của IRRI (2013). Chỉ số bệnh PDI của cả hai vụ biến thiên từ 5,43% đến 61,11%. Giá trị AUDPC biến thiên từ 176,28 đến 334,41. Các dòng giống lúa được phân thành 5 nhóm gồm kháng, kháng trung bình, nhiễm trung bình, nhiễm và nhiễm nặng. Không có dòng giống lúa nào trong số 240 giống bản địa được sàng lọc qua hai vụ thể hiện phản ứng miễn dịch (điểm 0). Tuy nhiên, có 7 kiểu gen thể hiện phản ứng kháng (điểm 1). Có 72 kiểu gen đạt điểm 5 được xếp vào nhóm nhiễm trung bình, 70 kiểu gen đạt điểm 7 được xếp vào nhóm nhiễm và 31 kiểu gen đạt điểm 9 được xác định là nhiễm nặng (Arpitha và cs. 2026).

Yuan và cs. (2026) ghi nhận tiểu đơn vị β của SnRK1, cụ thể là SnRK1β1A, đóng vai trò tạo ra tính mẫn cảm phổ rộng đối với các bệnh nấm trên cây lúa, bao gồm bệnh đốm vằn. Nhiều loài nấm gây bệnh trên lúa đã tiến hóa hội tụ để tạo ra một loại protein có đặc tính giống effector mang tên Gas2, protein này tương tác với SnRK1β1A nhằm ngăn chặn quá trình phân giải qua trung gian ubiquitin và thúc đẩy sự di chuyển của SnRK1β1A vào nhân tế bào. Sự biểu hiện của gen SnRK1β1A tăng mạnh khi cây lúa bị nấm tấn công, qua đó thúc đẩy tính mẫn cảm với bệnh bằng cách ức chế SnRK1α1 – một tiểu đơn vị α của SnRK1, vốn được biết đến với vai trò điều hòa tích cực khả năng kháng bệnh phổ rộng ở lúa. Đáng chú ý là các dòng lúa bị bất hoạt gen SnRK1β1A thể hiện khả năng kháng một số bệnh do nấm mà không làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng hay năng suất khi canh tác ngoài đồng ruộng trong điều kiện bình thường. Nghiên cứu này chứng minh rằng có thể đạt được khả năng kháng bệnh phổ rộng ở cây trồng thông qua việc bất hoạt các gen quy định tính mẫn cảm (những gen được kích hoạt khi nhiễm bệnh) mà sản phẩm protein của chúng là đích tác động của các effector được bảo tồn ở nhiều loài mầm bệnh khác nhau (Yuan và cs. 2026).

Li và cs. (2026) phân tích hệ phiên mã của giống lúa Shennong 9816 khi cho lây nhiễm nhân tạo với chủng R. solani AG1-IA. Họ đã xác định được 4.542 gen biểu hiện khác biệt (DEG; p < 0,05, |log2FC| ≥ 1). Họ tiếp tục thực hiện phương pháp phân tích GO (Gene Ontology) và KEGG (Kyoto Encyclopedia of Genes and Genomes) đối với các gen DEGs này. Có sự phong phú rất đáng kể ở các nhóm chức năng phosphoryl hóa protein, tương tác cây chủ với ký sinh và phản ứng siêu nhạy cảm. Các gen mã hóa protein gắn canxi 45 (CML45), gen mã hóa protein gắn canxi 36 (CML36), gen mã hóa CPK35, gen mã hóa kinase liên kết thành tế bào 2 (WAK2), MSL, gen mã hóa protein gắn Ca2+ và gen mã hóa WRKY70 đều được ghi nhận tăng biểu hiện. Sự biểu hiện mạnh mẽ của gen OsCML45 và gen OsCML36 có liên quan đến khả năng kháng được sự xâm nhiễm của nấm R. solani trong cây lúa. Hơn nữa, các cây lúa biểu hiện mạnh mẽ gen OsCML45OsCML36 còn cho thấy có sự cải thiện về các đặc tính sinh lý cây lúa.  Như vậy gen OsCML45OsCML36 là các gen điều hòa tiềm năng trong phản ứng của cây lúa đối với bệnh đốm vằn (Li và cs. 2026).

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Adke Raghunandana et al. 2026. Spatial distribution and identification of potential risk regions of rice sheath blight in Kartanaka, India. Tropical Plant Pathology; 28 April 2026; 51(24).
Arpitha HB et al. 2026. Identification of Resistant Sources against Sheath Blight of Rice Caused by Rhizoctonia solani Kuhn. International Journal of Bio-resource and Stress Management; March 18 2026.
Biswal Avinash et al. 2025. Estimation of Disease Severity and Screening of Sheath Blight Resistant Cultivar among Indigenous Rice Genotypes. Int J. of Basic and Applied Sci. 14(6) 188-221.
Li Xinchun et al. 2026. Identification of OsCML45 and OsCML36 as Candidate Regulators of Rice Resistance to Sheath Blight Caused by Rhizoctonia solani. J Agric Food Chem.; 2026 Apr 29;74(16):12775-12786.doi: 10.1021/acs.jafc.6c00147.
Mehta Emritpal et al. 2026. Sheath Rot Reconsidered: Understanding Pathogen Complexity for Eco-Friendly Disease Management and Sustainable Rice Health. Plant Pathology; 18 May 2026. https://doi.org/10.1111/ppa.70176.
Tian Yangyang et al. 2026. A mechanistic model integrating multi-source data for operational prediction of rice sheath blight at regional scale. Pest Management Science; August 1 2026; https://doi.org/10.1002/ps.71147.
Verma Mansi et al. 2026. Exploiting the potential of microbial consortia against sheath blight in Basmati rice caused by Rhizoctonia solani. Int. Microbiology; May 28 2026; https://doi.org/10.1007/s10123-026-00842-z.
Yuan Guixin et al. 2026. Inactivating SnRK1β1A promotes broad-spectrum disease resistance in rice. Nature; 2026 May; 653(8114):474-482. doi: 10.1038/s41586-026-10273-5.

Hội thảo Quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 24

Kỷ yếu Hội thảo 2025 (Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường)

Hội thảo Quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 24 khai mạc lúc 8 giờ sáng ngày 18/7/2025 tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Thành phố Hồ Chí Minh. Sự kiện thu hút gần 200 đại biểu là các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành và các bạn sinh viên/học viên trong lĩnh vực Bệnh hại Thực vật, Bảo vệ Thực vật và Nông nghiệp từ các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong cả nước về dự. Có 12 công trình nghiên cứu được Ban tổ chức chọn báo cáo tại Hội thảo. Trong 31 bài báo khoa học tham gia Kỷ yếu Hội thảo, có 26 bài được chọn đăng trong Số đặc biệt Bệnh hại Thực vật của Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường tháng 7/2025. Hội thảo diễn ra thành công tốt đẹp và bế mạc lúc 17 giờ cùng ngày. Sau khi Hội thảo kết thúc, Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam đã tổ chức chuyến tham quan thực địa cho Hội viên trong 2 ngày 19-20/7/2025 tại khu vực thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đại biểu tham dự Hội thảo Quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 24 ngày 18/7/2025
tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khen thưởng các Hội viên có thành tích xuất sắc trong công tác.
Toàn cảnh Hội thảo Quốc gia Bệnh hại Thực vật Việt Nam lần thứ 24.
Đoàn tham quan thực địa tại Xã Long Phước, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trao đổi giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà khoa học.
Đoàn tham quan thực địa viếng Đền thờ Anh hùng Liệt sĩ Võ Thị Sáu.

Bài: Phạm Thiết Trình

Bản tin

  • CHÀO MỪNG 25 NĂM THÀNH LẬP
    HỘI NGHIÊN CỨU BỆNH HẠI THỰC VẬT VIỆT NAM
    28/9/2001-28/9/2026

    Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Việt Nam (tên tiếng Anh: Vietnamese Phytopathological Society, tên viết tắt: VPS) được thành lập vào ngày 28/9/2001 trực thuộc Hội các ngành Sinh học Việt Nam với tên gọi ban đầu là Hội Sinh học Phân tử Bệnh lý Thực vật Việt Nam (2001-2008). Hội là tổ…

    Đọc thêm →

  • Hội thảo khoa học và tổng kết công tác
    Chi Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Tây Nguyên năm 2025

    Hội thảo khoa học và tổng kết công tác Chi Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Tây Nguyên năm 2025 được tổ chức vào chiều ngày 15/11/2025 với gần 30 Hội viên từ các đơn vị trong và ngoài tỉnh Đắk Lắk tham dự. Ban Chấp hành Chi Hội Tây Nguyên điều hành Hội…

    Đọc thêm →

  • Hội thảo khoa học
    “Bệnh hại trên cây ăn quả, rau màu và biện pháp quản lý”
    tại Đại học Cần Thơ

    Hội thảo khoa học với chủ đề “Bệnh hại trên cây ăn quả, rau màu và biện pháp quản lý” do KhoaBảo vệ Thực vật, Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ phối hợp với Công ty TNHH CortevaAgriscience Việt Nam tổ chức vào sáng ngày 28/11/2025 đã nhận được sự quan tâm và tham…

    Đọc thêm →

  • Chi Hội Phú Thọ họp tổng kết hoạt động năm 2025

    Ngày 07/11/2025, Chi Hội Nghiên cứu Bệnh hại Thực vật Phú Thọ (gọi tắt là Chi Hội Phú Thọ) đã tổ chức họp tổng kết hoạt động của Chi Hội năm 2025 và triển khai kế hoạch hoạt động năm 2026 tại Trường Đại học Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ với sự hiện diện của…

    Đọc thêm →

Đại diện Ban Chấp hành Hội

GS.TS. Vũ Triệu Mân

Chủ tịch Hội

PGS.TS. Nguyễn Đắc Khoa

Phó Chủ tịch Hội kiêm Tổng Thư ký